Kinh Môn trong lòng tôi, 2

Kinh Môn trong lòng tôi
2. An Sinh- An Phụ
Không ở đâu trên đất nước như miền Đông Bắc, di tích về thời đại nhà Trần dày đặc, chiều sâu tâm linh Việt được gìn giữ lưu truyền hầu như nguyên vẹn. Dường như ký ức dân tộc qua bảy trăm năm vẫn còn như tươi mới trên dải đất miền duyên hải này. Một vùng non nước quy tụ quanh hai đỉnh cao thắng địa là Yên Tử và Yên Phụ đã là mảnh đất hùng phát của họ Đông A, làm cho dân tộc quật khởi, chung đúc nên khí phách, cũng là mảnh đất đau thương chiến địa chống ngoại xâm và nội loạn khi vương triều tàn lụi.
Yên Tử thì có lẽ hầu hết người dân Việt Nam đều biết, đó là thủ đô tâm linh, địa danh chuyên chở tầm cao tư tưởng của người Việt thời cổ đại, gắn liền với hai vị vua anh hùng thời Trần là Thái tông và Nhân tông. Suốt chiều dài lịch sử, chỉ có Yên Tử là duy nhất đã khai sinh một Thiền phái thuần Việt, một hệ thống triết luận của người Việt, do người Việt lập nên có ảnh hưởng đến toàn dân. Đó cũng là nơi đầu tiên, một giáo hội được tổ chức, đưa đạo vào đời, đưa triều chính đến gần với đời sống bình dân. Đó là niềm tự hào của tư tưởng Việt.
Nhưng còn Yên Phụ…? Yên Phụ ở đâu? So với Yên Tử uy nghi vút lên giữa ngút ngàn rừng, thì Yên Phụ chỉ là một đỉnh núi hơn ba trăm mét so với mực nước biển, cầm dụng cụ đánh lửa mua tại đây theo mình, đỉnh cao nhất trong một dãy núi làm nên xương sống của huyện Kinh Môn, là một chi nhánh của vòng cung Đông Triều trong phân loại của các nhà địa học. Nhưng nơi đây chắc hẳn đã là một vùng đất quan trọng của họ nhà Trần. Trang ấp của An sinh vương Trần Liễu ngay dưới chân núi Yên Phụ, Sông Kinh Thày, sông Bạch Đằng uốn mình chảy quanh, cửa biển xa xa phía Đông, đồng bằng miền Bắc phía Tây. Có một sự lưu ý: Hiện nay cả Kinh Môn và Đông Triều đều có xã An Sinh. An Sinh của Kinh Môn nằm ngay dưới chân núi Yên Phụ, nơi an táng Trần Liễu. Theo chính sử, các vua Trần từ Minh tông về sau đều chọn An Sinh làm lăng sau khi băng. Có thể suy đoán trang An Sinh thời Trần là một khu vực rất rộng, bao trùm từ An Sinh Kinh Môn kéo dài đến chân núi Yên Tử, bao trùm cả An Sinh của Đông Triều bây giờ.
Nếu thật sự dòng họ Trần, cho đến Trần Thủ Độ, đã trải qua nhiều thế hệ sinh cơ lập nghiệp rồi mới tiến vào triều chính ở Thăng Long, thì dòng trưởng chính là ăn lộc đất này, trong đó trưởng họ là Trần Liễu, đến Trần Quốc Tuấn. Có một sự thật mà ít có sách sử nào nói đến, đó là Trần Quốc Tuấn chắc hẳn cũng được sinh ra và gắn bó tuổi thơ ấu tại đây, nơi trang ấp của cha mình. Cuối thế kỷ hai mươi, các nhà lãnh đạo tỉnh Hải Dương có sáng kiến chọn phía dưới đền Trần Liễu, trên đỉnh núi, dựng một bức tượng đá người con anh hùng của Trần Liễu là Trần Quốc Tuấn, thật là một việc làm ý nghĩa và đúng đắn, phù hợp với lịch sử tâm linh lưu truyền trong dân gian ở vùng này.
Đến bây giờ nhiều người vẫn còn nhớ giai thoại tâm linh siêu việt khi dựng tượng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến đặt bệ tượng. Ngày hô thần nhập tượng, bầu trời đang yên ổn bỗng nổi gió, giáng mưa, rồi lại bình yên. Người ta còn nói, trước đây, Hải Dương là nơi làm ăn bê bết, cán bộ bất hoà, sau khi dựng tượng, những người chủ trương việc này đều phát đạt, cán bộ thì lên cấp, dân tình thì khấm khá. Cũng có thể thời điểm dựng tượng Đức Thánh Trần trùng với thời điểm Đổi Mới, việc này vận với việc kia cũng chả có liên quan duy vật biện chứng gì cả, nhưng đôi khi những chuyện tâm linh lại nuôi dưỡng một hạt nhân sự thật là truyền thống được tiếp nối, lịch sử văn hoá được trường tồn.
Hội đền Yên Phụ ngày mồng Một tháng Tư ta, đó là ngày giỗ của An Sinh vương Trần Liễu. Từ Tết, qua ba tháng mùa xuân, người đi đền An Sinh vương và chùa Cao nườm nượp, nhưng hội to nhất là vào ngày Một tháng Tư. Từ thuở bé, tôi đã thấy người ta nói: “Tháng Tám giỗ cha, Tháng Ba giỗ mẹ, Tháng Tư nói khẽ mồng Một giỗ ông”. Cũng có dị bản: “Tháng Tư sang hè mồng một giỗ ông”.
Trần Liễu không được chọn tiếp nhận ngôi vua từ họ ngoại, người được Thủ Độ chọn lại là Trần Cảnh. Dân gian lâu nay cho rằng Trần Thủ Độ chọn một đứa bé tám tuổi để cho dễ bảo, dễ uốn nắn, chứ tại sao không chọn Trần Liễu lúc đó đã mười sáu tuổi?. Những sự kiện sau đó trong đời những bậc vĩ nhân này cho thấy Trần Thủ Độ quả là một người làm “công tác tổ chức” rất đúng đắn. So với em, Trần Liễu giữ đất bản nguyên của tổ tông, lại có quyền hành từ sớm, nên hành xử có lẽ dân dã hơn, ít học hơn. So với anh, Trần Cảnh có lẽ hiền hoà hơn, được học hành từ nhỏ trong cung nên tiếp thu văn hoá đậm chất “hàn lâm” hơn ông anh có máu giang hồ. Trần Thủ Độ hẳn đã nhận ra chân mệnh đế vương ở Trần Cảnh, nên ông không chọn Trần Liễu mà thôi. Nhưng nếu chỉ có thế thì Trần Liễu không khởi loạn vào năm 1237, đến nỗi bị Trần Thủ Độ toan giết đi, chỉ nhờ có con thuyền nhỏ gặp vua Thái tông mà thoát. Đó bắt nguồn từ mưu ép đổi vợ của Trần Thủ Độ. Bi kịch của một cá nhân không là gì so với lợi ích của một dòng họ. Một con người phải chịu sức ép trắc ẩn để cho dòng họ “lấy được nước”. Đó là nỗi bi phẫn của Trần Liễu, đến nỗi sau này ông đã phải dốc sức cho Trần Quốc Tuấn ăn học, mong làm cái việc lấy lại ngôi báu cho dòng trưởng. Cho dù toan tính của Trần Liễu hay Trần Thủ Độ có thế nào, người tính không bằng trời tính, lịch sử đã cho thấy những kết quả phi thường mà hợp nhân tâm. Trần Quốc Tuấn nếu chỉ có lấy ngôi vua dễ như trở bàn tay, thì ông hẳn đã không hiển thánh giữa đời. Từ cha, đến con, đến muôn đời sau… Đó là sợi giây làm nên dân tộc. Dù cho sử gia phong kiến, nhất là sử gia thời Lê ảnh hưởng nặng của Nho giáo, đã đánh giá anh em nhà Trần thế nào, thì nhân dân vẫn là một phía nhân tâm công bằng nhất. Ngày giỗ của An Sinh vương Trần Liễu vẫn là một trong những ngày hội quan trọng nhất ở vùng này.
Chưa bao giờ miền Đông Bắc chính thức là địa danh cấp hành chính hoặc được chính thức khu biệt với các vùng miền khác (như cách nói về Tây Bắc, Việt Bắc). “Đông Bắc” tôi nói ở đây là theo cách hiểu dân dã của tôi, thừa hưởng tập quán ở quê tôi, đó là một vùng gồm mấy huyện Chí Linh, Kinh Môn của Hải Dương, Đông Triều, Uông Bí và phần lớn miền ven biển của Quảng Ninh và bao gồm hầu hết thành phố Hải Phòng. Chiếu theo Đại Nam nhất thống chí, đó là địa phận của lộ Hải Đông thời Trần, là phủ Kinh Môn và Yên Bang thời Lê Trung hưng. Cách phân chia lộ của nhà Trần có lẽ cũng có lý. Nếu soi xuống mạch đất, thì những quả núi, hay dãy núi đá vôi “Hạ Long cạn” vùng quanh Yên Phụ, Yên Tử hẳn là cùng địa mạch với Hạ Long nổi trên biển cả.
Có một sự thật là để có đỉnh cao tâm linh Yên Tử, nhà Trần cũng phải đến thế hệ thứ Ba mới vươn tới được. Đầu tiên chắc hẳn chỉ là Yên Phụ. Ngay thế hệ thứ nhất chấp chính, Thái tông Trần Cảnh cũng chỉ có ý định đến Yên Tử mà không thực hiện được, như bài kể trong Khoá Hư lục, vua đã toan đi tu mà phải trở về. Như vậy, trước Trần Nhân tông, Yên Tử thuần tuý là nơi tu hành của các vị cao tăng, trung tâm Phật giáo, đơn thuần truyền bá giáo lý của Đức Phật xuất phát từ Ấn Độ. Nó chỉ trở thành địa danh chuyên chở tầm cao trí tuệ Việt khi xuất hiện Điều Ngự Giác Hoàng, vị vua bỏ ngai vàng trở thành cao tăng sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm.
Nghiên cứu sự di dịch từ Yên Phụ đến Yên Tử chắc hẳn sẽ có ích rất lớn cho việc tìm hiểu truyền thống tâm linh. Hưng Đạo đại vương được sinh ra và lớn lên tại chân núi Yên Phụ, sau đó đã làm phủ đệ ở Vạn Kiếp, trấn giữ một điểm yết hầu đường thuỷ tới Thăng Long, đưa con cháu trấn giữ một vùng biển miền Đông Bắc. Cho tới Nhân Tông, mới có thể ung dung lên Yên Tử đó chăng?
Nhà Trần sau Nhân tông, chắc hẳn coi vùng đất nối hai đỉnh núi Cha- Con này là nơi linh thiêng, nên hầu hết các vua đều xây lăng ở An Sinh, theo các nhà sử học thì An Sinh có lăng các vua Trần nay thuộc Đông Triều. Sau này, Trương Phụ nhà Minh đã tàn phá toàn bộ khu lăng mộ các vua Trần. Tôi đã đến An Sinh (Đông Triều) nhiều năm trước, tôi cũng thường đến An Sinh (Kinh Môn), cách đây mấy chục năm vẫn nhiều phế tích lắm, nền nhà cổ, những ngôi mộ đá đổ nát, con nghê con ngựa đá còn vứt lung tung. Rồi qua những năm người ta đào bới cổ vật, nghèo khó… Cho đến nay thì hầu như những vết tích ấy đã biến mất khá nhiều.
Từ Hà Nội có thể đến đây bằng đuờng Năm, viếng đền Trần Liễu và tượng Trần Quốc Tuấn, thăm chùa Cao, chùa Hạ, rồi có thể đi thuyền qua Kiếp Bạc, Côn Sơn, ra Yên Tử, đến Hạ Long và tới Cửa Ông, Móng Cái với một hệ thống đền thờ các con Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư đã từng trấn thủ đất này… Nhưng giá như không có chuyện những nhà máy xi măng… Ai ai cũng hiểu, nếu đến đây, du khách phải bịt khẩu trang, đi qua thì đầu đầy bụi, thì khó mà có tu du lịch nào. Chùa Hạ cũng như những ngôi chùa khác sẽ dựng lại đuợc, nhưng những dãy núi đá vôi Đông Bắc với vùng sinh thái quý giá của nó thì không sao giữ được. Đó không phải là việc của một huyện, một tỉnh, mà là việc nước. Có một vị lãnh đạo đến nhà máy xi măng Hoàng Thạch nói: “Cứ đất với đá là làm ra xi măng, tại sao ta không làm nhiều xi măng để công nghiệp hoá?” Hỡi ôi, đất với đá của cha ông, sao lại tính theo giá thị trường bằng đất xúc đổ đi? Rồi đến lúc chúng ta sẽ thấy giá của từng hạt xi măng nặng trĩu, giá của tâm linh, giá của hàng ngàn năm biết bao thế hệ đã giữ lại cho ta. Kinh Môn quả thật đã dứt từng mảng thịt da xương máu làm ra xi măng tiền của của cả nước
Trần Liễu khi nhắm mắt trối trăng gì với Trần Quốc Tuấn, Đại Việt sử ký toàn thư đã viết rõ rồi. Người con khác thường của ông không theo, chúng ta đã rõ. Cha quan niệm lấy ngôi là vì nước, con quan niệm không lấy ngôi cũng là vì nước. Cái ngôi vua so với non sông gấm vóc và bách tính thì chả là gì. Một thế hệ mà tư tưởng đã khác hẳn. Như Yên Phụ đến Yên Tử vậy. Như thế đất nước và dân tộc thì được vô giá, có thể nói đó là đạt tới đỉnh cao văn minh Việt vậy.
Tôi là một công dân bình thường nơi trang ấp xưa của Trần Liễu, phải nhận rằng tôi xấu hổ trước anh linh của ông, cũng như có lỗi trước linh hồn ông và cha tôi. Bởi vì một thế hệ tôi có lẽ đã đi ngược lại, từ Yên Tử trở về Yên Phụ, rồi ăn hết những quả núi, rặng núi nối liền hai đỉnh cao thắng địa ấy, rồi chui sâu xuống lòng đất tổ, ăn tiếp vào những vỉa chân núi của Hạ Long chăng?
Mọi người xem thêm thông tin tại:wetrek.vn/san-pham/bep-ga-du-lich.htm

Comments 10

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *