NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 GÓC NHÌN TỪ PHÍA BÊN KIA

NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 GÓC NHÌN TỪ PHÍA BÊN KIA
KỲ II: KHÔNG TÌM THẤY XÁC “NGƯỜI HÙNG” CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA.
Quân đoàn I của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đóng giữ tại Quân khu 1 – Việt Nam Cộng hòa là lực lượng tinh nhuệ bậc nhất của Quân đội ngụy Sài Gòn. Nó được tạo nên để đối đầu với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đây là quân đoàn có biên chế mạnh nhất của Quân đội ngụy Sài Gòn khi đó với thành phần bao gồm:
– Các sư đoàn bộ binh 1, 2, 3; mỗi sư đoàn gồm 3 trung đoàn bộ binh được tăng phái (phối thuộc) 3 thiết đoàn kỵ binh (4, 7, 11, mỗi thiết đoàn tương đương 1 trung đoàn) và 4 tiểu đoàn pháo.
– Các liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15; mỗi liên đoàn tưưng đương 1 lữ đoàn.
– Các thiết đoàn kỵ binh thiết giáp 17, 18, 20 trực thuộc Bộ chỉ huy Quân đoàn.
– 3 tiểu đoàn pháo binh được trang bị pháo 175 mm và pháo 155 mm trực thuộc Quân đoàn.
– 3 tiểu đoàn phòng không trang bị pháo cao xạ 40 mm
– 4 tiểu đoàn biệt kích thám báo.
– 8 liên đoàn bảo an gồm 50 tiểu đoàn.
– 4 đại đội cảnh sát dã chiến.
– 8 tiểu đoàn công binh xây dựng và 10 tiểu đoàn công binh chiến đấu.
Tổng cộng, trung tướng Ngô Quang Trưởng, được mệnh danh “Người hùng Quân lực Việt Nam Cộng hòa”, Tư lệnh Quân đoàn I – Vùng 1 chiến thuật quân đội ngụy Sài Gòn nắm trong tay 134.000 quân, 449 xe tăng và xe bọc thép, 64 xe bọc thép M-42 gắn pháo phòng không 40mm, 418 pháo cỡ lớn 105-175 ly (chưa kể pháo cỡ nhỏ và súng cối), 373 máy bay và 165 tàu xuồng các loại.
Tuy nhiên, quân đoàn chủ lực manh nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tháo chạy và tan rã chỉ trong vòng 10 ngày kể từ khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nổ súng tấn công tại Mặt trận Trị Thiên Huế, 18-3-1975.
1- “Việt Cộng muốn vào Huế phải bước qua xác tôi”.
Đó là lời hứa của trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn I – Vùng chiến thuật 1 của quân đội ngụy Sài Gòn.
Trong cuốn hồi ký “Vì sao tôi bỏ Quân đoàn I”, tướng Ngô Quang Trưởng viết rằng Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh rút bỏ Huế với lý do… không đủ tiền để giữ; nhưng Ngô Quang Trưởng vẫn cố gắng níu kéo. Cho rằng thực lực của Quân đoàn I (ngụy) vẫn còn đủ để giữ Huế và Đà Nằng, Trưởng đã điện đam xin ý kiến Trần Thiện Khiêm, mời Khiêm ra thị sát Vùng chiến thuật 1 nhưng Thiệu vẫn giữ quan điểm phải rút bỏ Huế. Ngô Quang Trưởng đã viết trong hồi ký của mình như sau:
“Tôi ra lệnh cho tướng Trần Văn Nhựt (tư lệnh Sư đoàn 2 – TMN) rút khỏi Chu Lai ra chiếm đóng cửa biển sông Thu Bồn nối thông ra đảo Lý Sơn. Trong hoàn cảnh đó, sự hỗ loạn diễn ra do dan chúng hoảng hốt từ chỗ này sang chỗ khác làm cho binh sỹ nao núng và cũng chạy thoát thân. Vào ngày 22-3-1975, tôi nhận được lệnh rút Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến về Nha Trang. Những lực lượng khả dĩ ngăn chặn Cộng quân đã bị rút đi. Ngày 29-3-1975, Cộng quân tràn vào Đà Nẵng”.
Nhưng sự thật là Ngô Quang Trưởng đã đổ mọi tội lỗi lên đầu Nguyễn Văn Thiệu đẻ trốn tránh trách nhiệm của y.
Ngày 19-3-1975, Ngô Quang Trưởng báo cáo cho Cao Văn Viên kế hoạch giữ Vùng 1 chiến thuật. Kế hoạch này được gọi nôm na là “một gốc hai cành”. Lấy Đà Nẵng làm gốc. Hai cành là Huế và Chu Lai. Với lực lượng gồm 3 sư đoàn bộ binh, 4 liên đoàn biệt động quân và 6 trung đoàn thiết giáp cộng với Sư đoàn 1 không quân tại Đà Nẵng, Ngô Quang Trưởng hoàn toàn có thể “kéo dài dài sự sống” của Quân đoàn I (ngụy) ít nhất là 3 tháng. Nhưng tất cả sự sụp đổ chỉ diễn ra trong 10 ngày.
Trung tướng Lâm Quang Thi, Phó Tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy mô tả cảnh tượng náo loạn tại thành phố Huế từ ngày 20 đến ngày 23-3-1975:
“Buổi sáng ngày 20-3, Trung tướng tư lệnh Ngô Quang Trưởng triệu tập tôi cùng các chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh, Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh và thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh Sư đoàn Thủy quân lục chiến đến Hướng Điền để nghe ông ta truyền đạt mệnh lệnh phòng thủ Quân khu 1 của Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó:
– Lữ đoàn 369 Thủy quân lục chiến phòng thủ tuyến từ An Lỗ đến cửa Thuận An.
– Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến phòng thủ dọc bờ biển từ cửa Tư Hiền đến Lăng Cô.
– Sư đoàn bộ binh 1 đóng giữ 4 khu vực: Trung đoàn 51 giữ Hòn Vượn, trung đoàn 3 giữ Hải Các, trung đoàn 54 giữ Gia Lệ (nơi đặt Bộ chỉ huy Sư đoàn), trung đoàn 1 giữ Phú Bài.
– Số quân còn lại của Sư đoàn bộ binh 3 giữ đèo Hải Vân.
– Liên đoàn 15 biệt động quân (tương đương lữ đoàn) đóng giữ Hướng Điền.
Buổi trưa ngày 20-3, tướng Trưởng về thị sát thành phố Huế. Phố xã tràn ngập những đoàn người và các sắc lính bỏ chạy từ Quảng Trị và tư các vùng quê quanh thành phố vào. Đâu đâu cũng nhan nhản lính tráng đầu không mỹ, tay không vũ khí dặt díu theo vợ con chạy ngược chạy xuôi, mặt mày nhớn nhác đầy lo âu, sợ hãi. Dân chúng thì gồng gánh, bồng bế nhay chen chúc trên lề đường, trong các chùa chiền, nhà thờ, trường học, bến xe. Cảnh sát và quân cảnh đều bó tay, không thể vãn hồi được trật tự. Binh lính ở các đồn bốt và công chức các công sở bỏ trốn hàng loạt, mặc cho tiếng loa của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn I liên tục đe dọa sẽ “bắn bỏ tại chỗ những kẻ đào ngũ và rời bỏ trách vụ”.
Tại Bộ tư lệnh tiền phương Quân đoàn I ở đồn Mang Cá, tướng Trưởng hùng hồn tuyên bố: “Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này”.
Ngày 21-3-1975, Quân Giải phóng tấn công và đánh chiếm căn cứ Truồi ở phía Nam thành phố Huế. Xe tăng quân giải phóng truy đuổi xe tăng, thiết giáp của quân ngụy Sài Gòn bỏ chạy tán loạn. Đoạn đường quốc lộ 1 từ Huế đi Đà Nẵng bị cắt đứt. Ở phía Bắc Huế, ngày 22-3, các sư đoàn 312 và 324, Quân Giải phóng phá vỡ tuyến phòng thủ sông Mỹ Chánh, tướng Nguyễn Văn Điềm phải lui quân về giữ tuyến sông Bồ.
Ngày 23-3, Trung tướng Lâm Quang Thi, Phó tư lệnh Quân đoàn I ngụy đề nghị Ngô Quang Trưởng cho rút quân khỏi Huế theo hai phương án:
– Hoặc tập trung khoảng 20.000 quân và hơn 100 xe thiết giáp cùng hơn 100 khẩu pháo mở đường máu đánh thốc qua Truồi về Hải Vân, vào Đà Nẵng.
– Hoặc tổ chức hai cánh quân cùng rút chạy: Cánh quân phía bắc gồm Thủy quân lục chiến (các lữ 147 và 369), Liên đoàn 15 biệt động quân. Liên đoàn 913 địa phương quân, Thiết đoàn 17 rút theo đường bộ qua cửa Thuận An. Cánh quân phía Nam gồm toàn bộ Sư đoàn 1 bộ binh theo đường Vĩnh Lộc ra cửa Tư Hiền. Sau khi hội quân sẽ men theo đường bờ biển vào Hải Vân.
Không một tướng lĩnh ngụy Sài Gòn nào đủ can đảm để chọn phương án 1. Ngày 24-3-1975 được chọn làm ngày khởi sự việc “di tản chiến thuật” ở cánh Bắc của Quân đoàn I ngụy.
Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân lục chiến thuộc lực lượng dự bị chiến lược của quân đội ngụy Sài gòn đã kể lại những giây phút hấp hối của Sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy:
“Hồi 5h chiều 23-3-1975, tôi đang đáp trực thăng đi thăm các đơn vị ở Đà Nẵng thì được lệnh về gặp trung tướng Trưởng ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn I. Ngay khi tôi vừa bước vào phòng làm việc của Trưởng, ông ta nói với tôi: “Tôi đã ra lệnh bỏ Huế rồi”. Tôi hiểu ngay rằng Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến đã bị bỏ rơi bởi Ban Chỉ huy lữ đoàn đang đóng tại căn cứ Tân Mỹ gần cửa Thuận An, 2 tiểu đoàn đóng ở An Lỗ, tiểu đoàn thứ ba đang đóng ở phía Bắc Hương Điền, phía Nam sông Mỹ Chánh.
Theo kế hoạch thì tất các các đơn vị của tôi cùng Liên đoàn 15 Biệt động quân và Thiết đoàn 17 sẽ ra cửa Thuận An và tại đấy sẽ có các tàu đổ bộ LCU vào đón. Nhưng lệnh rút quân quá đột ngột nên các đơn vị đã không thi hành đúng ké hoạch. Do đó, các đơn vị của Lữ 147 và Lữ 369 phải rút theo phương án tự túc. Một số rút theo Quốc lộ 1 vào Đà Nẵng, bị Việt Cộng phục kích và đánh thiệt hại rất nặng. Chỉ một số nhỏ Thủy quân lục chiến thoát được bằng đường bộ và đường thủy. Đa số bị kẹt lại tại Huế. Số rút ra được phá Tam Giang qua cửa Tư Hiền cũng bị Việt Cộng bắt sống hết”.
Vấn đề nằm ở chỗ những đơn vị sư đoàn, liên đoàn, thiết đoàn có mặt trên bản đồ Vùng Chiến thuật 1 của Ngô Quang Trưởng tính đến ngày 25-3-1975 chỉ còn là những “lá cờ bằng giấy”. Sư đoàn 1 bộ binh ngụy Sài Gòn, nóng cốt của lực lượng phòng thủ Huế đã hầu như tan rã từ ngày 22-3-1975. Sư đoàn 3 với biệt danh “Sư đoàn Trừng giới” còn tan rã trước đó vào ngày 18-3-1975 khi Sư đoàn 324 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến đánh La Vang và Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23-3-1975, những đơn vị đi đầu của Sư đoàn 324, Quân giải phóng tiến vào thành phố Huế mà không phải bước qua “cái xác” của Ngô Quang Trưởng bởi “cái xác” ấy đã lặng lẽ rời Huế lẻn vào Đà Nẵng. Không kèn không trống.
2- “Cành Nam gãy gục”
Số phận của Sư đoàn 2 ngụy do chuẩn tướng Trần Văn Nhựt chỉ huy tại Quảng Tín (Quảng Nam ngày nay) cũng không kém phần bi đát. Trưa ngày 24-3-1975, tuyến phòng thủ của các trung đoàn 4, 5 ở phía Tây thị xã Tam Kỳ bị chọc thủng. Quân sĩ của hai trung đoàn này đã tháo chạy vô tổ chức về căn cứ Chu Lai. Tuy nhiên, cánh quân Bắc Liên khu V của Quân giải phóng gồm Sư đoàn 3 Sao Vàng và Trung đoàn 2 chủ lực khu (Anh Hai liên khu V) đã bất ngờ chiếm giữ đoạn đường Quốc lộ số 1 từ Nghĩa Hành về Tư Nghĩa (Quảng Ngãi). Trung đoàn 6 (Sư đoàn 2 ngụy) và Liên đoàn 11 biện động quân ngụy đã bị lọt vào vòng vây. Sau khi bị đánh thiệt hại nặng, hai đơn vị này cũng phải tháo chạy về Chu Lai. Căn cứ Chu Lai trở thành cái rốn chứa tàn quân ngụy ở 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín chạy về và chờ tàu đổ bộ LCU đến bốc đi.
Cuộc tháo chạy của quân đội ngụy Sài Gòn khỏi Chu Lai cũng hỗn loạn không kém cuộc tháo chạy khỏi Huế. Trung tá hải quân Vũ Quốc Công, thuyền trưởng tàu vận tải HQ-802, chỉ huy cuộc vận chuyển tàn quân của Sư đoàn 2 ngụy từ Chu Lai ra đảo Lý Sơn đã kể lại cuộc điện đàm với thuyền trưởng của tàu đổ bộ HQ-505 về cuộc tháo chạy đó:
– HQ-505: “Báo cáo cấp trên, tình hình trên bến đang rất khẩn cấp và rất bất ổn. Binh lính, xe cộ và chiến cụ chật ních trên bãi tập kết. Khi HQ-505 ủi bãi, lính và dân chen lấn lên tàu. Thiết giáp cũng xông bừa vào đám đông trước cửa đổ bộ, cán chết nhiều người. Một vài quả lựu đạn đã nổ tại cửa đổ bộ. Chết và bị thương khá nhiều. Chúng tôi phải rời bãi và vô cập cầu tàu”.
– HQ-802: “Trong đó còn đủ chỗ cho HQ-404 không ?”
– HQ-505: “Trình cấp trên, sau lái tôi còn chỗ cho HQ-404 cập vô. HQ-802 có thể ủi bãi nhưng rất nguy hiểm”.
– HQ-802: “Tàu của tui không có cửa đổ bộ. Vậy yêu cầu HQ-505 không nhận các loại chiến cụ. Chỉ nhận binh sĩ và gia đình, mang theo vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng hạng nhẹ.. Thúc họ lên tàu càng nhanh càng tốt”.
Ngay sau đó, tàu HQ-802 của Vũ Quốc Công đã dính đạn pháo của Quân giải phóng nên chỉ chở được một đám binh sĩ lộn xộn, bỏ lại tất cả các vũ khí nặng. Các chi đội cản hậu của Sư đoàn 2 ngụy cũng bị bỏ rơi. Vũ Quốc Công kể tiếp:
“Quãng 6 giờ chiều ngày 25-3-1975, tôi gởi điện về Dà Nẵng báo cáo diễn biến cuộc lui binh di tản tại Chu Lai. Nội dung nói rằng chúng tôi đã hoàn tất việc đón binh sĩ của Sư đoàn 2, ngoại trừ các chi đội cản hậu không kịp ra bến. Bỏ lại các chiến cụ nặng và quân dụng vì thủy đạo quá nông và tình hình hỗn loạn tại địa điểm tập trung”.
Gãy cả hai “cành” Nam (Chu Lai) và Bắc (Huế), Nguyễn Văn Thiệu buộc phải gửi cho tướng Ngô Quang Trưởng bức điện sau đây:
“14h 30’ 25-3-1975. Stop. Vì lý do eo hẹp về yểm trợ không quân và hải quân. Stop. Cho phép tập trung yểm trợ cho một “enclave” (chốt). Stop. Vậy “mener” (tiến hành) lui trì hoãn chiến về tuyến Hải Vân nếu cho phép. Stop. “Mặt trời”. Stop.”
Tuy nhiên, mệnh lệnh đó đã quá muộn so với tình hình thực tế. Quân ngụy Sài Gòn ở Quảng Nam – Đà Nẵng đã lâm vào thế bị vây chặt ba phía từ Bắc Hải Vân qua phía Tây các quận Hòa Vang, Đại Lộc, vòng xuống phía Nam đến Thăng Bình và kéo dài tới sát biển. Quân đoàn I ngụy chỉ còn một hướng tháo chạy ra biển.
3- “Lệnh bỏ Đà Nẵng”.
Thiếu tướng Bùi Thế Lân, kẻ vừa bị tổn thất 2 trong số 3 lữ đoàn thủy quân lục chiến hổ báo một thời kể về cuộc rút quân khỏi Đà Nẵng dưới sự yểm trợ của máy bay chiến đấu và các tàu chiến:
“Quãng 8 giờ tối 28-3-1975, Trung tướng Trưởng ngồi tại bàn giấy của Đề đốc hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại gọi điện về Sài Gòn báo cáo tình hình. Cúp máy xong, ông ta quay lại chỗ chúng tôi với vẻ mặt buồn thảm và chỉ thốt lên được mấy chữ: “Lệnh bỏ Đà Nẵng…” Chỉ mươi phút sau khi tướng Trưởng ban bố lệnh rời bỏ Đà Nẵng thì pháo binh của Cộng quân đã pháo kích trúng ngay văn phòng của đề đốc Thoại. Đạn pháo rơi như mưa khắp căn cứ với mật độ ngày càng dày đặc.
Tới 9 giờ tối, Chuẩn tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh đáp trực thăng vào gặp Trung tướng Trưởng, nhận mệnh lệnh và bay luôn về Quy Nhơn. Ngay sau đó, Trung tướng Lâm Quang Thi, Phó tư lệnh Quân đoàn I cũng lên trực thăng bay ra chiến hạm Mỹ vì cho rằng mình không còn nhiệm vụ. Khoảng gần 10 giờ đêm, tướng Trưởng lên trực thăng riêng để bay về Bộ Tư lệnh quân đoàn nhưng trực thăng đã bị đạn pháo đánh hỏng. Tôi đề nghị tướng Trưởng dùng trực thăng riêng của tôi nhưng nó cũng bị pháo kích hư hỏng nốt.
Tình hình càng lúc càng trầm trọng. Cộng quân pháo kích thẳng vào phi trường Đà Nẵng và Bộ Tư lệnh Quân đoàn I. Các chiến hạm và tàu bè đều đã rời bến. Phòng Hành quân của đề đốc Thoại bị phá hủy. Tôi và ông Thoại không còn phương tiện nào để rút lui nên đành đi bộ qua các mỏm đá để ra bãi biển phía sau bán đảo Sơn Trà. May thay, có một ghe nhỏ của Hải quân do thiếu tá Hy chỉ huy đi qua. Đề dốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã gọi chiếc ghe đó lại và nó đã chở hai chúng tôi ra tàu vận tải HQ-802 do Trung tá Vũ Quốc Công chỉ huy”.
Đại tá Nguyễn Thành Trí, phó tư lệnh Sư đoàn Thủy quân lục chiến đã phải cay đắng thốt lên:
“Trong cuộc rút lui này, những tướng lĩnh đã lạnh ai nấy chạy, chẳng còn chút nghĩa tình “huynh đệ chi binh” nào hết. Khoản 5 giờ chiều 28-3-1975, Cộng quân tấn công Sư đoàn 3 ở sườn Tây Đà Nẵng. Sư đoàn này đã phải rút chạy sau vài giờ chống trả. Cuộc rút chạy này đã làm hở một khoảng trống lớn bên sườn của Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 258 (Lữ đoàn duy nhất còn lại của Sư đoàn Thủy quân lục chiến). Tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư đoàn đã rời sở chỉ huy đến chỗ đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại. Có lẽ ông ta muốn kiếm đường rút chạy ra biển. Lúc này, bên cạnh tướng Bùi Thế Lân có ông Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng Francis. Ông này có mang theo một máy điện đàm vô tuyến cầm tay cỡ nhỏ và chốc chốc lại gọi điện cho ai đó.
Khoảng nửa đêm 28 rạng ngày 29-3-1975, có tiếng động cơ trực thăng đáp xuống bãi đáp gần sở chỉ huy Sư đoàn. Sỹ quan trực ban chạy ra đón và đưa nhóm người vào Sở chỉ huy. Tôi thấy có Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh, Tư lệnh Sư đoàn không quân 1, đại tá Phước, Chỉ huy trưởng Không đoàn chiến thuật 51, đại tá Nguyễn Hữu Duệ, Tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế và viên đại úy sĩ quan tùy tùng của tướng Trưởng.
Sau khi được báo cáo rằng các đơn vị đã bỏ Đà Nẵng, tướng Trưởng tuyên bố:
– Bây giờ các chiến hữu hãy tự tìm đường thoát. Còn tôi sẽ đi theo Thủy quân lục chiến.
Tướng Trưởng vừa nói xong thì gần như cùng lúc, Chuẩn tướng Khánh, Đại tá Phước và Đại tá Duệ cùng chào tướng Trưởng và vội vã ra trực thăng bay đi ngay.”
Khoảng 6 giờ sáng 29-3-1975. chiếc trực thăng chở tướng Khánh và 2 viên đại tá bị trúng đạn bộ binh phải cánh khẩn cấp xuống bãi biển phía Đông bán đảo Sơn Trà. Trung tướng Trưởng cùng thiếu tướng Bùi Thế Lân cũng ra đó cùng lúc. Tấy cả phải lội xuống biển đến ngang ngực để chờ tàu Hải quân ngụy cho xuồng vào vớt. Chuẩn tướng Bùi Thế Lân kể lại:
“Sáng 29-3-1975, tàu HQ-404 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận lệnh vào cách bờ 5 hải lý để vớt tướng Trưởng nhưng không chịu vào sâu thêm. Cuối cùng, tôi nghe đại tá Nguyễn Thành Trí thuật lại rằng HQ-404 đã được lệnh neo cách bờ 5 hải lý nhưng viên hạm trưởng đã cho tàu trôi từ từ vào cách bờ khoảng dưới 1 hải lý nên đã vớt được tướng trưởng và nhiều sĩ quan, binh lính Thủy quân lục chiến từ bờ lội ra, trong đó có đại tá Trí. Bộ Tổng tham mưu lệnh cho Thủy quần lục chiến về Sài Gòn để chỉnh trang và bổ sung. Nhưng ngày 1-4-1975, khi đang trên đường về thi Bộ Tổng tham mưu lại ra lệnh cho tôi đưa Thủy quân lục chiến cập bến Cam Ranh. Mãi tới ngày 3-4, Bộ Tổng tham mưu mới lệnh cho tàu HQ-802 chở Thủy quân Lục chiến về Vũng Tàu.”
Còn Trung tướng Ngô Quang Trưởng thì thuật lại những mệnh lệnh oái oăm của Nguyễn Văn Thiệu:
“Khi tôi lên được tàu HQ-404 và ra khơi để về Sài Gòn, trên tàu đã có số quân còn lại của Lữ đoàn 258 Thủy quân lục chiến. Tổng thống Thiệu điện cho tôi yêu cầu tôi đưa quan quay trở lại tái chiếm Đà Nẵng. Tôi trả lời ngay rằng bây giờ tôi lấy ai đi theo chan tôi quay về tái chiếm Đà Nẵng ? Lính tráng thì đã tar a mỗi người mỗi ngả. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó được ? Sau đó, tôi lại được lệnh yêu cầu hạm trưởng ghé vào Cam Ranh, đưa Thủy quân lục chiến lên bờ. Còn HQ-404 thì chở tôi về Sài Gòn. Tôi không chịu…”
Có một điều mà tướng Trưởng không hề biết là tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh thành lập một tòa án binh để “xử” cả hai tướng Phạm Văn Phú và Ngô Quang Trưởng về tội đã để mất một nửa lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ảnh 1: Các đơn vị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến vào thành Huế qua Ngọ Môn ngày 25-3-1975
Ảnh 2: Phương tiện chiến tranh của quân đội ngụy Sài Gòn bỏ lại trên Quốc lộ số 1 phía Nam An Lỗ.
Ảnh 3: Bộ Tư lệnh Quân đoàn I – Quân khu 1 của quân đội ngụy Sài Gòn rơi vào tay Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ảnh 4: Tàu vận tải HQ-404 (bên phải) dắt theo một tàu LCU chở quân ngụy Sài Gòn rút chạy khỏi Đà Nẵng. Trên tàu hầu như không còn chỗ trống.
Ảnh 5: Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào nội đô Đà Nẵng ngày 29-3-1975.

Comments 22

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *