NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 GÓC NHÌN TỪ PHÍA BÊN KIA

NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 GÓC NHÌN TỪ PHÍA BÊN KIA
KỲ III: ĐỘNG MỒ, ĐỘNG MẢ, ĐỨT LONG MẠCH
1- Vì sao Nguyễn Văn Thiệu chọn Phan Rang để xây dựng tuyến phòng thủ ?
Theo hồ sơ thì Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 24-12-1924 (Giáp Tý) tại làng Tri Thủy, xã Thanh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Ông ta là con út trong gia đình có bảy người con gồm năm trai, hai gái nên lúc nhỏ thường được gọi là cậu Tám. Tuy nhiên, chỉ có nhà thờ mới biết rõ rằng ông ta sinh ngày 5-4-1923 (Quý Hợi). Khi đầy tháng, ông ta rửa tội theo Công giáo với tên thánh là Martino. Người gần gũi với Thiệu duy nhất được biết đích xác ngày sinh của ông ta là gã thầy bói người Tàu chuyên xem tử vi và “dự báo” vận-hạn-cát-hung cho Thiệu.
Chính vì không biết chính xác ngày sinh của Nguyễn Văn Thiệu nên vào năm 1972 (Nhâm Tý), khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc Tổng tấn công lớn trên cả ba địa bàn chiến lược B2, B3 và B5, nhiều người tiên đoán rằng Thiệu sẽ thất bại, thậm chí là mất mạng trong năm này bởi họ cho rằng năm 1972 là năm tuổi của Thiệu. Chỉ riêng gã thầy bói người Tàu kia phán rằng năm đó, Thiệu gặp hạn lớn nhưng sẽ qua khỏi. Và sự thật là Thiệu đã qua được cái hạn Nhâm Tý đó.
Tin vào “vận đỏ” của mình, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng năm 1975 (Ất Mão) là năm hợp tuổi ông ta (tam hợp Hợi – Mão – Mùi) nên ông ta cũng sẽ “thoát nạn” như năm 1972. Và gã thầy bói người Tàu kia cũng phán như thế.. Chính vì vậy mà sau khi Huế, Đà Nẵng thất thủ cuối tháng 3-1975, rồi lần lượt Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa rơi vào tay Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Thiệu cho sáp nhập 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng vào địa bàn Quân khu 3, do Bộ Tư lệnh Quân đoàn III chỉ huy.
Theo kế hoạch “Nỗ lực tối đa” được Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng Quân đội ngụy Sài Gòn đã trình bày cho Nguyễn Văn Thiệu, phó đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Lehman và tướng Fredrick C. Weyand, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ Gerald Ford ngày 3-4-1975 thì tuyến phòng thủ này sẽ chạy dài từ Tây Ninh qua Xuân Lộc (Long Khánh) đến Phan Rang (Ninh Thuận), ngõ hầu bảo vệ cho ¼ lãnh thổ còn lại của Việt Nam Cộng hòa với ½ dân số. Theo viên tướng Mỹ Fredrick C. Weyand bình phẩm thì: “Cái neo phải đặt ở thị xã Phan Rang, lấy Xuân Lộc làm mũi nhọn và Tây Ninh là sườn phía Tây”. Trong đó, Phan Rang trở thành lá chắn phía Đông để ngăn chặn cánh quân duyên hải của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, hỗ trợ phòng ngự cho cụm cứ điểm Xuân Lộc và che chở từ xa cho Sài Gòn.
Lý giải việc Thiệu chọn Phan Rang làm lá chắn phía Đông, có những nguyên nhân về địa quân sự như vùng bờ biển Ninh Thuận dài, hẹp, bên núi bên biển, dễ dàng tổ chức các chốt chặn khi đối phương buộc phải kéo dài đội hình hành quân. Nguyên nhân tiếp theo là nếu giữ được Phan Rang là sẽ giữ dược căn cứ không quân Thành Sơn. Từ đây các máy bay của Sư đoàn 6 không quân ngụy có thể vươn tầm với đánh đến tận Đà Nẵng, làm chậm bước tiến của đối phương. Phan Rang còn là cụm cứ điểm tiền tiêu che chở cho Xuân Lộc. Nếu để mất Phan Rang, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có thể từ sân bay Thành Sơn tổ chức oanh tạc thẳng vào Sài Gòn, không chế các sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa, dùng Phan Rang làm bàn đạp tấn công Xuân Lộc.
Tuy nhiên, theo một số tướng tá ngụy Sài Gòn kể lại sau chiến tranh, Nguyễn Văn Thiệu quyết giữ Phan Rang còn có lý do riêng. Đó là mồ mả gia tiên của Thiệu đều đặt ở Phan Rang, tại một khu đất được coi là “hàm rồng” ở ngoại vi thành phố Phan Rang – Tháp Chàm. Người ta thường nói “sống về mồ về mả, đâu vì cả bát cơm”. Chính gã thầy bói người Tàu chuyên xem tướng số cho Nguyễn Văn Thiệu cũng khuyên Thiệu phải giữ bằng được đất ấy, không được để động đến “long mạch” vì việc đó có thể làm gia đình họ hàng của Thiệu khuynh gia bại sản.
2- Tình thế của “Lá chắn Phan Rang” và hy vọng hão huyền của tướng Trần Văn Đôn.
Ngày 2-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu phái Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III bay ra Phan Rang, cùng Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn không quân số 6 điều nghiên và phác họa kế hoạch phòng thủ. Chiều cùng ngày, Nguyễn Văn Toàn bay về Sài Gòn, lập tức đến Phòng Tình hình tại Dinh Độc Lập để báo cáo với Nguyễn Văn Thiệu về tình hình Phan Rang. Theo tướng Toàn nhận định thì:
a- Cộng quân chưa thể tấn công lớn ngay được vì qua hơn 20 ngày tấn công quá nhanh, tiếp vận của họ bị tụt hậu, không theo kịp nên quân đội Sài Gòn còn thời gian để tái phối trí phòng thủ.
b- Tình hình Ninh Thuận rất rối nát, sự hoảng loạn lan tràn trong đám tàn quân từ khắp nơi đổ về phao tin thất thiệt, ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ.
c- Cần áp dụng mọi biện pháp, kể cả các biện pháp cứng rắn nhất để vãn hồi trật tự thì mói tính đến việc phòng thủ có hiệu lực và hiệu quả được.
d- Cần huy động không quân đánh phá tối đa để trì hoãn tốc độ tấn cong của Cộng quân.
e- Nâng cao khả năng tác chiến phòng thủ kéo dài trong mùa mưa cho các đơn vị quân đội Sài Gòn.
Nguyễn Văn Thiệu và Cao Văn Viên tán thành những kết luận của tướng Toàn và ra lệnh xây dựng ngay “Lá chắn Phan Rang”. Thiệu điều Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, nguyên Tư lệnh Quân đoàn IV ra đảm trách chức vụ chỉ huy trưởng mặt trận Phan Rang; điều Chuẩn tướng Nguyễn Xuân Trang, Phó tổng tham mưu trưởng ra Phan Rang thu thập tàn quân tái lập Sư đoàn 2 bộ binh.
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh sư đoàn 6 không quân kể lại:
“Kể từ ngày 1-4-1975, sau khi Nha Trang bị bỏ ngỏ, căn cứ Thành Sơn nghiễm nhiên trở thành căn cứ tiền tiêu nhưng lại rất trống trải. Các đơn vị địa phương quân canh gác vành đai sân bay đã đào ngũ. Trong căn cứ, một số quân nhân trẻ nổ sung loạn xã và những mối lo sự vớ vẩn. Ngoài thị xã Phan Rang, Đại tá tỉnh trưởng Trần Văn Tự rời bỏ nhiệm sở khiến tôi phải cho người đi tìm về. Dân chúng thì ngơ ngác, hoang mang. Trên các quốc lộ 1 và 11 hướng đi Sài Gòn, từng đoàn xe quân sự và dân sự chật ních người rầm rầm nối nhau tháo chạy. Điều tệ hại hơn nữa là quân phòng thủ Đà Lạt cũng tháo chạy”.
Sau khi nhận chức vụ mới, Nguyễn Vĩnh Nghi cùng Phạm Ngọc Sang bố trí “Lá chắn Phan Rang” phòng thủ trên ba tuyến chính là tuyến đường độc đạo từ Du Long đi đèo Ngoạn Mục, tuyến đường Quốc lộ 1 qua cầu Tân Mỹ và sân bay Thành Sơn. Theo đó:
– Liên đoàn 31 biệt động quân giữ đường hẻm Du Long phía Bắc Phan Rang 20 km.
– Sư đoàn 2 bộ binh (tái lập) điều Trung đoàn 5 phòng thủ vành đai phía Bắc và phía Tây sân bay Thanh Sơn, trong đó có cầu tân Mỹ. Trung đoàn 4 chặn ngang Quốc lộ 11 (hướng Lâm Đồng).
– Lữ đoàn 2 dù đủ quân gồm các tiểu đoàn 3, 7, 11 và tiếu đoàn pháo binh bảo vệ Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn III đặt ngay tại căn cứ không quân Thành Sơn, đồng thời làm lực lượng dự bị.
Theo tướng Nghi, phải cần có thêm ít nhất 2 sư đoàn mới có thể phòng thủ được ít ra là nửa tháng. Thật khốn khổ cho hai viên tướng này. Bởi trong tình thế cứu binh như cứu hỏa thì quân đội Sài Gòn không thể vét đâu ra 2 sư đoàn để tăng viện cho “Lá chắn Phan Rang”. Phạm Ngọc Sang kể tiếp:
“Trong số quân được huy động phòng thủ Phan Rang có Liên đoàn 31 biệt động quân vừa được điều từ Chơn Thành trên đường 13 ra, không được nghỉ ngơi sau nhiều ngày chiến đấu và tổn thất, quân số thiếu hụt trầm trọng. Còn Sư đoàn 2 bộ binh mới tái lập tại Bình Tuy thì gồm toàn là tàn binh thất trận vừa tháo chạy từ Quảng Ngãi về và hãy còn đang hoang mang, hoảng loạn. Vì chưa nhân dược trang bị mới, sư đoàn mới chỉ có 2 trung đoàn này đã buộc phải bòn mót một số tăng và pháo ít ỏi trong dự trữ ở Phan Rang để phòng thủ.
Cả chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Sư đoàn dù và trung tướng Trần Văn Minh (Minh bé) khi ra thị sát Phan Rang đều rất bất bình về việc điều quân của tướng Nguyễn Văn Toàn. Theo ông Minh thì việc dùng sân bay Thành Sơn làm tiền đồn là hết sức sai lầm. Vì khi lâm sự, sân bay bị pháo kích thì không thể nói đến chuyện sửa chữa, bảo dưỡng máy bay. Còn chuẩn tướng Lưỡng thì đặt câu hỏi rằng tại sao để giữ một tiền đồn quan trọng như Phan Rang làm bàn đạp để lấy lại Cam Ranh và Nha Trang, tướng Nguyễn Văn Toàn lại không điều đến đây những đơn vị còn sức chiến đấu tốt mà lại dung hai đơn vị đã từng tháo chạy và còn đang chờ bổ sung quân số ? Ông Nghi cũng rất bất bình vì không nhận được 2 sư đoàn như đã hứa”.
Trong cuốn hồi ký “Thiên thần mũ đỏ, ao mất ai còn, chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng tỏ ra rất bức xúc:
“Hôm 30-3-1975, tôi đã nhờ tướng Sang điều trực thăng bốc các tiểu đoàn dù 2, 5 và 6 của Lữ dù 3 khỏi những ngọn núi chơ vơ không có bất cứ một giá trị phòng thủ nào về Phan Rang. Sau đó tôi yên tâm bay về Sài Gòn. Vừa về đến nơi, tôi rất ngạc nhiên trước lệnh của Bộ Tổng tham mưu yêu cầu đưa Lữ dù 2 đi thay thế Lữ dù 3, điều Lữ dù 3 về Sài Gòn để tái chỉnh trang. Tôi bèn hét toáng lên: “Phải là tăng cường chứ tại sao lại thay thế ? Mặt trận đang chịu áp lực nặng nề. Phía Bắc là Sư 3 và Sư 10 của đối phương đang tràn qua Nha Trang, phía Tây Nam là Sư 320 từ Cao nguyên đang đánh thốc xuống. Rút đi một cái đập lớn ngăn nước, cái đập mới chưa dựng xong thì nước lũ sẽ tràn ngập và tàn phá tan tành.”.
Ít ra, tướng Lưỡng, tướng Minh (Minh bé), tướng Nghi, tướng Sang còn là những người có đầu óc thực tế hơn nhiều so với cấp trên của họ ở Sài Gòn. Hãy nghe viên Trung tá binh chủng Dù Trương Dưỡng kể lại sự viển vông của Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng, tình nhân một thời của “đệ nhất phu nhân” Trần Lệ Xuân khi ông ta bay ra thị sát ở Phan Rang ngày 13-4-1975, một ngày trước khi Sư đoàn 3 “Sao vàng” của Quân Giải phóng nổ sung tấn công Phan Rang:
“Chiều 12-4-1975, có điện mật từ Sài Gòn đánh ra báo tin Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng và Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III ra Phan Rang thị sát. Trưa ngày 13-4-1975, phái đoàn hạ cánh ở sân bay Thành Sơn và được tướng Nghi dẫn đi thăm toàn hành chính, dinh tỉnh trưởng. Lúc về lại Trung tâm chỉ huy trong sân bay Thành Sơn, sau khi nghe tướng Nghi thuyết trình kế hoạch phòng thủ, tướng Đôn tuyên bố:
– Phải trở lại Nha Trang, vì dàn xếp chính trị có vẻ sắp xong… Vĩ tuyến 13 ngang qua Đèo Cả sẽ là ranh giới. Lữ dù 2 sẽ ra Nha Trang trước.
Đại tá Lương, chỉ huy Lữ dù 2 nói:
– Trình Tổng trưởng, với tình huống đối phương tăng cường ngày càng mạnh. Phi trường Phan Rang hang ngày đều bị pháo kích bằng sung cối 120 mm, tôi e rằng một mình lữ đoàn của tôi sẽ không chống đỡ nổi. Nếu có cả Sư Dù ở đây thi còn hy vọng làm được. Hơn nữa, 1 tiểu đoàn và bộ chỉ huy nặng của Lữ đoàn dã bị điều về hậu cứ Biên Hào từ hôm trước. Ở đây, tôi chỉ có trong tay 2 tiểu đoàn hiện đang đóng rải rác từ Ba Râu xuống tới núi Cà Đú thì giữ không nổi chứ đừng nói là tấn công ra Nha Trang.
Tướng Đôn khoát tay cho biết khi về Sài Gòn, ông ta sẽ can thiệp với Bộ Tổng tham mưu để đưa tiểu đoàn thứ ba quay lại Phan Rang. Còn kế hoạch điều Lữ Dù 2 tấn công ra Nha Trang thì chưa thể nói ở đây được.”
Quả thật là ông Tổng trưởng quốc phòng của chính quyền Sài Gòn vốn có máu văn nghệ sĩ rất giàu trí tưởng tượng. Trong tình thế đặng chẳng đừng, ông ta giống như người sắp chết đuối và thấy bất cứ cọng rơm nào cũng vơ đại lấy để làm phao.
3- “Lá chắn Phan Rang” biến thành “vỏ trứng” chỉ trong vòng 36 giờ.
Do phải hành quân trên chặng đường dài hơn 400 km từ Quảng Nam vào nên đến sáng 13 tháng 4, các chi đội phái đi trước thuộc Cánh quân Duyên hải của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gồm Sư đoàn 3 Sao Vàng và Trung đoàn bộ binh 25 (được điều từ Quân đoàn 3 sang phối thuộc) mới có mặt tại phía Nam Cam Ranh. Bộ tư lệnh Cánh quân Duyên Hải giao cho sư đoàn này nhiệm vụ đánh chiếm Phan Rang trong hành tiến. Việc chuẩn bị chiến đấu chỉ thực hiện trong vòng 24 giờ.
Sáng ngày 14 tháng 4, sư đoàn 3 Sao Vàng bắt đầu đột phá tuyến phòng thủ tại hẻm Du Long do Trung đoàn 5 (sư đoàn 2) và Liên đoàn 31 biệt động quân quân đội ngụy Sài Gòn trấn giữ. Để hạn chế thương vong, Bộ tư lệnh sư đoàn 3 chỉ dùng trung đoàn 2 đánh vỗ mặt, điều trung đoàn 52 luôn sâu và phía Nam, bất ngờ đánh chiếm hai điểm chốt tại ấp Bà Râu và cảng Ninh Chữ; đến buổi chiều cùng ngày thì khép được vòng vây cánh quân của quân đội ngụy Sài Gòn ở phía Bắc Phan Rang tại Bà Râu, Du Long, Kiền Kiền, Ba Tháp, Suối Đá. Trên hướng Tây Bắc, trung đoàn 25 đánh bật các đợt phản kích của trung đoàn 4, sư đoàn 2 tại đèo Ngoạn Mục, đẩy đơn vị này phải lùi khỏi tuyến phòng ngự ngoại vi Phan Rang rút về thị xã. Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, điều 8 máy bay A-37 ném bom phá sập cầu Kiền Kiền và dùng trực thăng đổ thêm quân xuống tuyến phòng thủ Kiền Kiền – Ba Tháp, tạm thời chặn được mũi tấn công của Sư đoàn 3 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ở hướng này.
Ngày 15 tháng 4, Sư đoàn 3 Sao Vàng một mặt vẫn sử dụng Trung đoàn 2 và Trung đoàn 52 phá vỡ tuyến phòng ngự phía Bắc Phan Rang tại Kiền Kiền và Ba Tháp; mặt khác tiếp tục điều động từ lực lượng dự bị của mình các trung đoàn 12 và 141 vượt đường số 1 thực hiện mũi vu hồi thọc sâu thứ hai, tấn công áp sát sân bay Thành Sơn, vây chặt thi xã Phan Rang. Tướng Phạm Ngọc Sang tiếp tục lệnh cho Sư đoàn 6 không quân ném bom đánh sập tất cả các cầu ở phía Bắc Du Long nhưng vẫn không ngăn cản được các đơn vị xe tăng phái đi trước của Lữ đoàn 203 – Quân đoàn 2 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp cận Phan Rang.
Ngay khi tiếp cận chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động thêm trung đoàn bộ binh 101 của Sư đoàn 325 và một tiểu đoàn xe tăng thuộc Lữ đoàn 203 tham chiến. 5 giờ sáng ngày 16 tháng 4, tất cả các cánh quân của sư đoàn 3 và trung đoàn 25 tấn công hợp điểm vào trung tâm thị xã. Chưa kịp ra lệnh phản công, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã nhận được tin điện khẩn cấp từ Liên đoàn 31 biệt động quân đóng tại Hội Diên, Xuân An báo về: “Xe tăng cộng sản vượt qua sông suối đang tràn qua Du Long vào Phan Rang”. Tướng Sang ra lệnh cho tất cả các máy bay còn bay được lập tức xuất kích ngăn chặn xe tăng đối phương. Tuy nhiên, ngay sau đó, một trận pháo kích mạnh của pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phá hỏng đường băng sân bay Thành Sơn. Các máy bay đã cất cánh phải quay về Biên Hòa sau khi thực hiện phi vụ.
11 giờ sáng ngày 16-4-1975, các chiến sĩ đại đội thọc sâu của Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 25, Sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt được viên trung tá Nguyễn Công Ba, Tham mưu trưởng tiểu khu Ninh Thuận. Tại dinh Tỉnh trưởng Ninh Thuận, Ba khai: “Sáng nay tôi lên sân bay để đi Sài Gòn. Nhưng chưa đến nơi đã bị pháo cách mạng bắn vào phi trường. Tôi quay về Phan Rang thì xe tăng đã chiếm ngã ba chợ. Tôi chạy vào đây nhưng Đại tá tỉnh trưởng cũng đã biến đâu mất”. Chỉ vào bàn tiệc, Ba cười mỉa nói tiếp: “Chúng tôi không ngờ cách mạng lại đến nhanh như vậy. Tân tỉnh trưởng Trương Đăng Liêm định làm bữa tiệc mời các cộng sự tới mừng ổng tới nhậm chức nhưng hóa ra đó lại là bữa tiệc cuối cùng của ông ta tại Phan Rang. Nhưng cả chủ và khách đều không kịp ăn thì xe tăng cách mạng đã ập tới rồi”. Khi được hỏi viên đại tá tân tỉnh trưởng Ninh Thuận hiện đang ở đâu thì Nguyễn Công Ba lại cười nhạt: “Sáng nay, ổng lấy cớ đi thị sát tình hình bằng trực thăng nhưng đã rông tuốt ra chiến hạm đậu ngoài khơi rồi”.
“Khi nghe tin xe tăng quân cách mạng vào tới dinh tỉnh trưởng Phan Rang. Nguyễn Vĩnh Nghi gọi điện về Quân đoàn III báo cáo: “Họ tiến nhanh quá, ngoài sức tưởng tượng. Chúng tôi đã thực sự bị bao vây trong phi trường Thành Sơn. Yêu cầu máy bay thả gấp cho một tiểu đoàn dù”. Đến lúc này mà tướng Nghi vẫn chỉ xin có lính dù. Không hiểu sao ông lại mê lính dù đến thế !” Nguyễn Công Ba bình luận rồi khai tiếp:
“Đầu dây đằng kia, tướng Nguyễn Văn Toàn vừa nói được một câu: “Tôi cũng đang bị kẹt” thì tướng Nghi đã quẳng ống nghe xuống và văng tục. Ngay sau đó, những luồng đạn súng máy đã nổ chát chúa trên nóc những ngôi nhà vòm. Có tiếng thét: “Bọn sư đoàn 2 làm phản ! Súng của đại đội trinh sát nó bắn vô đấy”. Lát sau lại có điện của chuẩn tướng Trần Văn Nhựt: “Bộ binh Cộng sản đã chiến được quả đồi của đại đội trinh sát. Họ cũng chiếm kho bom trên phi trường rồi. Đề nghị trung tướng…”
“Thấy không thể trùng trình được nữa, tướng Phạm Ngọc Sang giục tướng Nghi: “Tôi đã chuẩn bị sẵn một máy bay do Trung tá Lê Văn Bút, Không đoàn trưởng Không đoàn chiến thuật 72 lái, rất tin cẩn. Xin mời trung tướng đi trực thăng lên trời chỉ huy. Tánh mạng của trung tướng…”. Ông Nghi trả lời: “Cám ơn, nhưng chưa nên vội”. Và ông ta vẫn bám chặt lấy ống nghe máy điện đài. Nửa giờ sau, Tư lệnh sư 2 Trần Văn Nhựt báo cáo: “Sư 2 không còn sức phản công, Cộng quân đã vào chiếm các đồi ở phía bắc”. Cùng lúc, đại tá Nguyễn Văn Biết, chỉ huy Liên đoàn 31 biệt động quân giữ cổng số 2 cũng báo cáo: “Quân biệt động đã tan rã hết rồi. Cổng số 2 đang bị tràn ngập!”.
“Chỉ đến lúc đó, tướng Nghi mới hạ lệnh: “Tất cả rút chạy” rồi quăng ống nghe tổ hợp PRC25 xuống. Lúc đó là 9 giờ 25 phút. Các tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Văn Sang và đại tá Nguyễn Thu Lương (Lữ trưởng Lữ dù 2) định chạy ra máy bay lên thẳng nhưng không được. Đạn đại liên từ các quả đồi phía bắc sân bay bắn xuống xối xả, không thể ra đường băng được nữa. Tướng Nghi hấp tấp hỏi: “Ông Lương còn bao nhiêu quân”. Đại tá Lương đáp: “Trình Trung tướng còn hai đại đội. Rút theo cổng số 1, qua đường số 11. Từ đó tìm cách xuống Cà Ná về Phan Thiết !”. Đại tá Lương chỉ huy lính dù chạy men theo đường phía nam sân bay ra cửa số 1. Tiếp đó là bọn sĩ quan của sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3, sư đoàn 6 không quân… Nghi và Sang đi xe jeep đuổi theo sau. Nhưng cổng số 1 đã bị xe tăng đối phương ngăn chặn. Nghi ra lệnh quay lại. Từ lúc đó, tôi không gặp lại họ nữa”
Lúc 9 giờ 30 phút cùng ngày, Trung đoàn 101 đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, bắt sống đại tá Trần Văn Tự, nguyên tỉnh trưởng Ninh Thuận. Lúc 10 giờ ngày 16-4-1975, Trung đoàn 25 làm chủ sân bay Thành Sơn, bắt sống trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi – Phó tư lệnh Quân đoàn III và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, chỉ huy Sư đoàn 6 không quân của quân đội ngụy Sài Gòn. “Lá chắn Phan Rang” của quân đội ngụy Sài Gòn vỡ vụn như một cái vỏ trứng chỉ trong vòng 36 giờ.
Đồng chí Đoàn Mai Ngữ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam kể lại trường hợp bắt sống hai viên tướng ngụy Sài Gòn Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang và một cố vấn Mỹ không rõ tên:
“7 giờ tối 16-4-1975, tổ trinh sát của Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng do Trung đội phó Loan, tiểu đội trưởng Mưu và chiến sĩ trinh sát Quân đang sục sạo ở cánh đồng cỏ gần thôn Mỹ Đức, phía Đông sân bay Thành Sơn đã phát hiện một toán lính ngụy dưới mương nước. Nghe tiếng bước chân lép nhép trên bùn, Loan đoán bọn này khá đông. Quay lại báo đơn vị thì không kịp mà với ba người thì bắt không xuể. Loan nghĩ phải dùng mẹo. Anh bàn với Mưu và Quân rồi bất ngờ hô lớn:
– Hàng sống, chống chết. Các anh bị bao vây rồi !
Tiếng động dưới lòng máng im bặt. Loan hô tiếp, giọng gay gắt hơn:
– Các trung đội B.40, B.41 chuẩn bị.
Dưới mương có tiếng nói vọng lên
– Xin cách mạng đừng bắn, để bọn tui lên. Tụi tui xin hàng.
Từ dưới lòng mương, bọn ngụy bám nhau leo lên bờ. Tiểu đội trưởng Mưu đếm được tất cả có 30 tên đứng chen chúc trên bờ mương. Trong khi đó tổ chỉ có ba người. Trung đội phó Loan bỗng chú ý đến một tên cao trội hẳn lên. Anh nhìn kỹ, đoán là một tên Mỹ và quát:
– Ở dưới mương còn không ?
– Dạ hết.
Tên Mỹ đáp tiếng Việt gọn lỏn. Loan chưng hửng. Anh tiếp tục nghi binh, ra lệnh:
– Đồng chí Quân, đồng chí Mưu dẫn bọn địch về. Còn tôi và các trung đội ở lại tiếp tục tiễu trừ.
Lát sau, không gian trở lại yên lặng. Có tiếng xe chạy trên đường nhựa. Loan nằm đợi Mưu và Quân, lòng dạ bồn chồn. Anh biết dưới mương chưa hết địch. Nhưng vì chỉ còn lại một mình nên chưa biết hành động ra sao. Giữa lúc Loan còn đang tính toán thì dưới lòng mương lại có tiếng động. Không do dự, Loan rút chốt lựu đạn thả xuống. Bọn giặc hốt hoảng xin hàng. Chúng lóp ngóp bước tên. Tám tên cả thảy. Loan hỏi một tên thấp lùn bước lên sau cùng:
– Mày lính gì ? Dù hay biệt động ?
Tên kia đáp:
– Dạ, tôi là cấp chỉ huy ở đây ?
Loan hỏi tiếp:
– Cấp nào ? Đại úy hay đại tá ?
– Dạ, tôi là Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng.
Loan hơi giật mình rồi hỏi một tên cao lớn hơn. Hắn thưa:
– Dạ tôi là chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, chỉ huy Sư đoàn 6 không quân.
Tên thứ ba là đại tá (chính là Nguyễn Thu Lương, Lữ trưởng Lữ Dù 2 – TMN), còn lại hầu hết là trung tá. Chỉ có một tên lính. Mưu và Quân lúc đó cũng kịp dẫn các chiến sĩ trong đại đội quay lại. Mưu báo cho Loan biết cái tên cao to, mũi khoằm ấy đúng là một tên cố vấn Mỹ khi đó mới 36 tuổi.
Ngoài số tù binh cao cấp gồm hai viên tướng, viên cố vấn Mỹ và một loạt đại tá, trung tá, thiếu tá quân ngụy Sài Gòn, Sư đoàn 3 Sao Vàng còn thu được một số lượng chiến lợi phẩm rất lớn. Trong đó có có 40 máy bay và 37 khẩu pháo cỡ nòng từ 105 mm đến 155 mm.”
Trong cuộc hỏi cung sau khi bị bắt làm tù binh, tướng Nguyễn Vinh Nghi thừa nhận: “Chúng tôi bị bất ngờ trước tốc độ tiến công quá nhanh, quá mạnh của quân Cách mạng. Các ông có lối đánh đồng loạt tấn công từ nhiều hướng, chia cắt các cánh quân của chúng tôi thành nhiều mảnh đã làm chúng tôi không đủ thời gian điều quân đối phó. Thú thật với các ông, súng đạn của chúng tôi còn khá dồi dào. Hỏa lực và xung lực cũng không đến nỗi yếu kém. Chúng tôi tin rằng sẽ giữ dược nhưng không ngờ các mũi vu hồi phía sau của các ông quá mạnh nên đành chịu thất bại.”
Trong trận Phan Rang, điều đau đớn nhất đối với Nguyễn Văn Thiệu là vào chiều tối ngày 15-4-1975, một tốp lính biệt động quân của Liên đoàn 31 đã kiếm được một chiếc máy ủi đất. Theo các nhân chứng tại làng Tri Thủy kể lại thì tốp lính này vừa lái máy húc ủi sập và san bằng mồ mả gia tiên của Nguyễn Văn Thiệu vừa réo chửi cả ba đời ba họ tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã “đem con bỏ chợ”. Sau đó, tốp lính này để lại chiếc máy ủi và bỏ đi đâu không rõ.
Ảnh 1: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công “Lá chắn Phan Rang”.
Ảnh 2: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm trụ sở chính quyền ngụy tỉnh Ninh Thuận.
Ảnh 3: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm tòa thị chính Phan Rang.
Ảnh 4: Hàng trăm tấn vũ khí, hàng hóa quân sự và máy bay của không quân ngụy bi Quân giải phóng chiếm được tại tại sân bay Thành Sơn.
Ảnh 5: Toàn cảnh căn cứ không quân Thành Sơn năm 1974.
Ảnh 6: Tù binh cao cấp bị Quân Giải phóng bắt tại Phan Rang: Trung tướng quân đội ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi, Phó tư lệnh Quân đoàn III – Quân khu 3, Chỉ huy Bộ tư lệnh nhẹ Quân đoàn III tại Phan Rang. (ảnh chụp khi ông này còn là thiếu tướng, tư lệnh Quân đoàn IV).
Ảnh 7: Tù binh cao cấp bị Quân Giải phóng bắt tại Phan Rang: Chuẩn tướng không quân Phạm Văn Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân ngụy.

Comments 2

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *